Công nghiệp… gia công
Theo giới chuyên gia, yếu kém trong chuỗi cung ứng hàng công nghiệp chế biến và sản phẩm nông nghiệp đã cản trở Việt Nam giảm chi phí XK để tạo giá trị gia tăng cần thiết. Hạn chế chủ yếu đối với hàng công nghiệp chế biến là phụ thuộc quá nhiều vào nguyên liệu NK, ít kinh nghiệm trong việc tìm kiếm nguồn nguyên liệu, phụ thuộc vào trung gian trong cả hai khâu tìm nguồn cung và nhận biết tín hiệu thị trường… Rà soát cụ thể vào một số ngành hàng XK chủ lực có thể thấy ngay điều này.
Đối với ngành dệt may, hầu hết các công ty trong ngành công nghiệp may mặc chỉ tham gia vào gia công sản xuất, với 60% trong số này là những nhà máy cung cấp hàng gia công cho chủ hàng nước ngoài. Số còn lại là các nhà sản xuất theo hợp đồng có tham gia mua nguyên vật liệu và một số lượng nhỏ hơn tham gia vào sản xuất, mua nguyên vật liệu và tìm nguồn cung ứng. Chỉ có 2% số DN trong ngành là công ty sản xuất thiết kế gốc. Đặc biệt, DN dệt may vẫn phải NK đến 80% nguyên liệu để sản xuất, gia công cho nước ngoài. Tương tự ngành da giày cũng vậy. Nhà máy cung cấp hàng gia công cho chủ hàng nước ngoài chiếm 45% tổng số các nhà máy, 60% nguyên liệu thô được NK, chủ yếu từ các nước châu Á. Thậm chí ngành hàng mới nổi, đóng góp không nhỏ vào kim ngạch XK chung của cả nước là điện tử và linh kiện điện tử bị chi phối bởi các công ty nước ngoài, đặc biệt là các nhà sản xuất thương hiệu lớn như Canon, Panasonic chuyển đến Việt Nam để giảm chi phí sản xuất. Các DN Việt Nam cũng có đóng góp cho thành tích XK nhưng không đáng kể, chủ yếu là gia công cho các công ty nước ngoài, với các thị trường chủ yếu như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Malaysia, Đài Loan (Trung Quốc) và các nước ASEAN.
Song hành với nhóm hàng công nghiệp chế biến, các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam như cà phê, gạo, chè, thủy sản… mặc dù đứng vị trí nhất nhì trên thế giới nhưng giá bán rất thấp, lợi nhuận thu về ít. Nguyên nhân của tình trạng này được ông Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn (Bộ NN&PTNT) chỉ ra là do chúng ta chưa hình thành được chuỗi ngành hàng đồng bộ dẫn tới biến động giá theo mùa lớn đối với mọi hàng hóa, hay nói cách khác là luôn trong cảnh “được mùa mất giá”. Chuỗi cung ứng gạo là ví dụ điển hình cho các sản phẩm nông nghiệp. Theo đó, chuỗi cung ứng gạo cho XK của Việt Nam còn hạn chế về vốn và quy mô giao dịch, tình trạng “đấu trộn” gạo với các chất lượng khác nhau còn phổ biến; người nông dân sản xuất không có nhiều động lực để cải thiện chất lượng lúa gạo do lợi nhuận thấp, Chính phủ có rất ít tín hiệu nhằm giảm vai trò của DN Nhà nước trong kinh doanh…
Vai trò của Chính phủ
Những hạn chế trên khiến cho nhiều ngành hàng XK của Việt Nam “có tiếng” nhưng không “có miếng”. Giá trị gia tăng đem lại rất thấp bởi chủ yếu là gia công cho nước ngoài, còn các sản phẩm nông nghiệp vẫn xuất thô là chính. Việc XK nguyên liệu thô mặc dù vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong sản lượng XK nhưng đã sụt giảm trong thời gian qua, từ 51,7% năm 2000 xuống còn 30% trong năm 2010 và 9 tháng đầu năm 2013 chỉ chiếm trên 22% tổng kim ngạch XK. Ông Phạm Minh Đức, chuyên gia cao cấp của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam cho rằng, sau một thập niên phát triển nhanh, tốc độ tăng trưởng của các sản phẩm nông nghiệp dự tính sẽ giảm do đã chạm ngưỡng về đất đai và lao động. Do vậy, để tái cơ cấu chuỗi cung ứng sản phẩm nông nghiệp, nhất là mặt hàng gạo, Chính phủ cần khuyến khích tăng quy mô sản xuất và chất lượng gạo, hiện đại hóa công nghệ chế biến và tăng tỷ trọng bán hàng DN với DN. Còn theo ông Sơn, để đẩy mạnh chuỗi cung ứng sản phẩm nông nghiệp, cần đẩy mạnh hơn nữa việc sắp xếp lại các DN Nhà nước theo hướng cổ phần hóa, bán khoán cho thuê, liên doanh hợp doanh để đa dạng hóa hình thức sở hữu làm cho DN hướng về thị trường hơn nữa; đồng thời sớm tạo ra hành lang pháp lý, chính sách thông thoáng, trong đó mọi thành phần kinh tế được đối xử công bằng, tạo điều kiện thuận lợi thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế vào nông nghiệp và nông thôn.
![]() |
|
Nguồn: Báo cáo tạo thuận lợi thương mại, tạo giá trị và năng lực cạnh tranh- Gợi ý chính sách cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam |
Sự manh mún, kém phát triển của ngành công nghiệp hỗ trợ cũng là nguyên nhân khiến cho chuỗi cung ứng ngành công nghiệp chế biến khó thực hiện. Trên thực tế, việc phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ sẽ giúp các nhà XK giảm chi phí và thời gian mua vật tư tại chỗ, tăng độ tin cậy giao hàng, đáp ứng linh hoạt hơn với yêu cầu của khách hàng quốc tế. Do vậy, theo khuyến cáo của các chuyên gia, đối với ngành công nghiệp chế biến, vai trò của Chính phủ không chỉ đơn thuần là sắp xếp lại chuỗi cung ứng hiện thời nhằm giảm chi phí mà tái cơ cấu thông qua các biện pháp: Thúc đẩy sản xuất nguyên liệu trong nước để giảm sự phụ thuộc vào NK, tái cấu trúc chuỗi cung ứng bằng cách thay đổi chu kỳ đặt hàng và các mô hình kinh doanh, phát triển các cụm sản xuất để phát huy lợi thế kinh tế nhờ quy mô. Ví dụ như ngành điện tử và thiết bị điện tử, Chính phủ cần khuyến khích phát triển các cụm sản xuất, đảm bảo hỗ trợ logistic và cung cấp hạ tầng giao thông trong một kế hoạch tổng thể cấp quốc gia chứ không phải trên cở sở riêng lẻ vụn vặt. Ngoài ra, cần có chính sách khuyến khích hấp thụ và cập nhật công nghệ trong đó ngành giáo dục cần cung cấp nguồn nhân lực đáp ứng được về số lượng và chất lượng.
English
普通话




