Vì sao lãi suất cao?
Những năm gần đây, tổng dư nợ cho vay tiêu dùng (CVTD) ở Việt Nam tăng trưởng trung bình xấp xỉ lên tới 20%/năm. Qua khảo sát thực tế tại 21 NHTM và 5 Công ty tài chính tiêu dùng, Ths. Phạm Xuân Hòe – Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ cho biết, dư nợ CVTD trong 3 năm trở lại đây tăng khá nhanh: từ 87 nghìn tỷ đồng năm 2011, đã lên tới 188 nghìn tỷ đồng trong năm 2013. Tuy nhiên, so với tiềm năng dân số 90 triệu người, trong đó 51,6% dân số trong độ tuổi lao động thì tốc độ tăng của CVTD chưa tương xứng với tiềm năng.
Theo các diễn giả tại Hội thảo khoa học “Lãi suất CVTD – Thực trạng và giải pháp quản lý”, tổ chức tại Hà Nội ngày 16/12, CVTD tuy được đánh giá là rất tiềm năng nhưng khuôn khổ pháp lý trong CVTD còn thiếu, đặc biệt là chưa có quy định về lãi suất. Hiện lãi suất CVTD được đánh giá chung đang ở mức rất cao.

Vay tiêu dùng không có tài sản đảm bảo nên rủi ro thường cao hơn nhiều lần so với cho vay lĩnh vực khác
Tại sao lãi suất CVTD luôn cao hơn so với mặt bằng lãi suất cho vay? Theo phân tích của ông Hòe, khi NH cho vay kinh doanh thông thường, ngoài nguồn thu từ lãi suất họ còn có thu nhập từ dịch vụ liên quan khác như dịch vụ bảo lãnh, thanh toán… Chính vì thế lãi suất trong cho vay sản xuất kinh doanh thường thấp hơn CVTD. Bên cạnh đó, vì các món vay nhỏ và phân khúc khách hàng thu nhập thấp vay tiêu dùng không có tài sản đảm bảo nên rủi ro thường cao hơn nhiều lần so với cho vay lĩnh vực khác. Vì lẽ đó, lãi suất cho vay cũng phải tương xứng với rủi ro.
Đồng tình với cách lý giải trên, nhưng theo một chuyên gia ngành NH, trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến chi phí lãi suất của các NH đó là phương pháp thu hồi lãi của TCTD. Hiện các NH áp dụng 4 phương pháp thu hồi lãi phổ biến: lãi đơn, chiết khấu, cho vay trả góp, và số dư bù. Theo tính toán, nếu NH nào áp dụng phương pháp lãi đơn thì khách hàng sẽ có mức lãi suất tốt hơn, còn nếu theo cho vay trả góp (tính lãi gộp) lãi suất có thể bị nhân đôi.
Hiện, lãi suất CVTD tại các NHTM phổ biến ở mức 8 – 14%/năm; tại các công ty tài chính (CTTC) dao động khoảng 20% – 60%/năm. Nếu so sánh với dải lãi suất CVTD qua các CTTC của các nước như Mỹ: 8% – 36%; EU 15 – 25%/năm; hay như Trung Quốc từ 10% – 40%… thì rõ ràng mặt bằng lãi suất CVTD mà các CTTC đang áp dụng ở Việt Nam là khá cao.
Nguyên nhân do các CTTC ở các nước phát triển có nhiều dữ liệu hơn về tình trạng tài chính của khách hàng và tỷ lệ khách hàng có nguy cơ không trả nợ nên họ xây dựng được mô hình định giá phù hợp. Tại các thị trường mới nổi, những dữ liệu trên không có sẵn nên mức lợi nhuận biên của người cho vay cần cao hơn để bù đắp những chi phí rủi ro đã được tính toán không chính xác lúc ban đầu.
Ông Nguyễn Duy Nhân – đại diện HDFinace ở Việt Nam thì phân tích, do đặc điểm hoạt động của các CTTC là khách hàng vay tiêu dùng hầu hết là những người không có đủ điều kiện tiếp cận tín dụng NH hay còn gọi là phi chuẩn nên mức độ rủi ro cao hơn cần dự phòng chi phí tương xứng. Mặt khác, các khoản CVTD của CTTC thường rất nhỏ, mà chi phí hoạt động như triển khai hệ thống dịch vụ đến từng điểm bán hàng, đội ngũ quản lý, thu hồi nợ cồng kềnh… nên khá tốn kém.
Tăng cường minh bạch, công khai
Đâu là mức lãi suất CVTD phù hợp vừa hỗ trợ phát triển tín dụng tiêu dùng, chính sách quản lý NHNN như thế nào để điều tiết, phòng ngừa rủi ro? Tổng giám đốc Prudential tại Việt Nam Sanjay Chakrabarty cho rằng, rất khó chuẩn hóa mức lãi suất. Vì mỗi TCTD hoạt động với mô hình kinh doanh khác nhau, khẩu vị rủi ro khác nhau. Riêng chi phí huy động vốn vô cùng khác biệt, như có đơn vị huy động từ công ty mẹ; có công ty thì từ thị trường liên ngân hàng, hay từ dân cư…
Phân tích sâu hơn, CVTD còn phải xét yếu tố rủi ro theo phân khúc khách hàng hay từng khách hàng. Các NH phải lượng hoá được phát sinh có thể xảy ra để đưa ra những điều chỉnh cho phù hợp. Khi tiên lượng rủi ro đầu vào thì các TCTD có thể đưa ra quyết định lãi suất đối với từng đối tượng khách hàng.
Đơn cử, một TCTD A định vị đến khách hàng tốt nhất để giảm thiểu rủi ro, nhưng để tiếp cận được đối tượng này phải đầu tư bộ phận kinh doanh rất lớn. Như vậy, mức phí kinh doanh có thể cao nhưng độ rủi ro lại thấp và ngược lại.
Một số nước trên thế giới đã khống chế lãi suất CVTD. Như ở Hàn Quốc khống chế mức trần phí cụ thể như phí marketing không được cộng chi phí lãi suất… nhờ đó lãi suất CVTD cũng giảm phần nào. Đầu tháng 12/2014, Nhật Bản cũng đã sửa đổi chính sách áp trần lãi suất cho vay sau khi quy định này đã tác động tiêu cực đối với tín dụng tiêu dùng, ảnh hưởng tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, ông Sujay cũng lưu ý cơ quan quản lý cân nhắc yếu tố tích cực cũng như tiêu cực đối với mỗi biện pháp của các nước này.
“Một cơ chế thả nổi lãi suất CVTD theo thị trường cạnh tranh và cho vay có trách nhiệm, thực hiện hậu kiểm qua tính minh bạch trong quan hệ với khách hàng vay vốn sẽ tạo lập môi trường tốt hơn cho phát triển tín dụng tiêu dùng”, ông Hòe đề xuất.
Đại diện của một tổ chức tài chính quốc tế cũng ủng hộ NHNN áp dụng chuẩn mực các TCTD trong CVTD, đồng thời đề nghị: TCTD cân nhắc tỷ lệ cho vay dựa trên thu nhập, hạn chế cho vay tín chấp lỏng lẻo hoặc dựa trên tài sản đảm bảo. Thời gian tới mức độ cạnh tranh cao hơn nhiều TCTD tham gia thị trường này, có thể người tiêu dùng vay quá mức khả năng chi trả dẫn đến tỷ lệ nợ xấu gia tăng ảnh hưởng đến nền kinh tế và cả xã hội.
Từ góc độ CTTC tiêu dùng, đại diện Home Credit cũng thừa nhận, bản thân các CTTC cần có thay đổi tích cực theo chiều hướng minh bạch hơn: nghiêm túc công khai lãi suất để trở thành đối tượng cho vay có trách nhiệm; cố gắng tuyên truyền để khách hàng hiểu rõ hơn các sản phẩm, khi đi vay tránh cảm thấy bị lừa dối như hiện tại.
English
普通话



