
Năm 2018 khép lại với những con số, khẳng định 2018 là một năm thành công của kinh tế Việt Nam. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) cả năm 2018 tăng 7,08%, là mức tăng cao nhất kể từ năm 2011 trở về đây. Cụ thể, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,76%, đóng góp 8,7% vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,85%, đóng góp 48,6% và khu vực dịch vụ tăng 7,03%, đóng góp 42,7%. Về cơ cấu ngành trong nền kinh tế năm 2018, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 14,57% GDP; công nghiệp và xây dựng 34,28%; khu vực dịch vụ 41,17%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10%.
Điều này khẳng định tính kịp thời và hiệu quả các giải pháp được Chính phủ ban hành, chỉ đạo quyết liệt các cấp, các ngành, các địa phương cùng nỗ lực thực hiện.
Tuy nhiên, nhìn sâu hơn có thể thấy tăng trưởng GDP và xuất khẩu cơ bản dựa vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, khu vực kinh tế trong nước hầu như bị chèn lấn so với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Do cách tính GDP về thường trú nên phần giá trị tăng thêm của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài được tính cả vào GDP (bao gồm cả phần giá trị doanh nghiệp chuyển về nước như lợi nhuận… và lương trả cho lao động nước ngoài), tạo nên thành tích đóng góp vào tăng trưởng GDP và phần nào lý giải GDP tăng ở mức cao hàng đầu châu Á nhưng thu nhập và đời sống của người dân không được cải thiện bao nhiêu, nợ công, nợ doanh nghiệp nhà nước vẫn tăng. Tính một cách tổng quát về xuất nhập khẩu hàng hóa cho thấy tình hình là xuất siêu nhưng thực chất đó chỉ là thành tích bề nổi, xuất siêu hoàn toàn do

khu vực có vốn đầu tư nước ngoài mang lại, khu vực kinh tế trong nước vẫn nhập siêu ngày càng cao. Số liệu thống kê cũng cho thấy từ khi gia nhập WTO (2007) đến nay độ mở của nền kinh tế Việt Nam là rất lớn, xuất khẩu hàng hóa trong giai đoạn 2007-2016 tăng 364%, nhập khẩu hàng hóa tăng 279%. Tuy nhiên, nếu xét kỹ theo sở hữu có thể thấy khu vực FDI tăng nhanh hơn khu vực trong nước khá nhiều. Xuất khẩu hàng hóa của khu vực FDI trong giai đoạn này tăng 454% và nhập khẩu hàng hóa của khu vực FDI tăng 472%, tăng trưởng xuất khẩu bình quân của khu vực FDI giai đoạn 2007-2016 khoảng 21%/năm và tăng trưởng nhập khẩu bình quân của khu vực FDI khoảng 22%/năm, trong khi tăng trưởng về xuất khẩu và nhập khẩu của khu vực trong nước giai đoạn này tương ứng là 11% và 7%/năm. Cơ cấu xuất nhập khẩu cũng cho thấy khu vực FDI đang nhanh chóng chiếm thị phần xuất khẩu và cả nhập khẩu. Năm 2005 xuất khẩu của khu vực FDI chiếm khoảng 57% tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa thì đến năm 2016 xuất khẩu của khu vực này lên đến 72% tổng giá trị xuất khẩu; tương tự cơ cấu nhập khẩu của khu vực FDI cũng tăng từ 35% năm 2005 lên 59% đến năm 2016.
Xu hướng nhập khẩu và xuất khẩu của khu vực FDI cũng ngày càng “lấn lướt”, dần dần chiếm lĩnh thị phần của khu vực kinh tế trong nước. Cơ cấu xuất khẩu hàng hóa của khu vực kinh tế trong nước năm 1995 chiếm 73% tổng kim ngạch xuất khẩu đến năm 2000 còn 52,98%, giảm xuống còn 27,5% vào năm 2017; thay vào đó khu vực FDI tăng lên tương ứng: từ 27% năm 1995 lên 47,02% năm 2000 và 72,5% năm 2017. Cơ cấu nhập khẩu cũng có sự thay đổi đáng kể, khi mà khu vực kinh tế trong nước phải “nhường” 33,2% thị phần cho khu vực FDI trong giai đoạn 2000-2017.
Như vậy, nền kinh tế luôn nhập siêu suốt từ năm 1995-2017 và khu vực đầu tư nước ngoài luôn xuất siêu. Nếu năm 1995 khu vực đầu tư nước ngoài chỉ xuất siêu 5 triệu đô la Mỹ thì đến năm 2017 xuất siêu của khu vực này trên 25 tỉ đô la. Khu vực trong nước năm 1995 nhập siêu khoảng 2,7 tỉ đô la đến năm 2017 nhập siêu trên 25 tỉ đô la. Như vậy có thể thấy về tổng số xuất siêu hay nhập siêu đều do khu vực đầu tư nước ngoài mang lại. Điều này cho thấy sự mừng rỡ với xuất siêu phải chăng là mừng rỡ với túi tiền của người khác?
Cũng theo số liệu của Tổng cục Thống kê, xuất khẩu của khu vực FDI là rất lớn (72,5% trong tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa năm 2017) nhưng giá trị gia tăng đóng góp vào GDP chỉ khoảng 20% đến năm 2017. Hơn nữa, mặc dù trong xuất khẩu của khu vực FDI bao gồm xuất khẩu khoáng sản (dầu khí, than đá…) có tỷ lệ chi phí trung gian không cao nhưng tỷ trọng giá trị tăng thêm của khu vực này trong tổng GDP chỉ khoảng 20%.
Thực ra đóng góp của khu vực FDI vào GDP khoảng 20% không phải là nhỏ trong khi khu vực doanh nghiệp tư nhân chỉ đóng góp vào GDP 8,64% tính đến năm 2017, đóng góp của khu vực kinh tế nhà nước chiếm khoảng 29%, bao gồm đóng góp của doanh nghiệp nhà nước và các hoạt động về quản lý nhà nước và các hoạt động sự nghiệp (tiền từ ngân sách chi thường xuyên), trong đó ước tính đóng góp của doanh nghiệp nhà nước vào GDP khoảng 20%.
Đóng góp lớn nhất vào GDP là khu vực cá thể, chiếm đến 29,34% GDP, một lần nữa khẳng định nền kinh tế Việt Nam không chỉ là nền kinh tế gia công mà còn rất manh mún; không một nước nào cóthể phát triển nếu nền kinh tế dựa vào sản xuất gia công và cá thể nhỏ lẻ. Thật đáng tiếc là từ năm 2005 đến nay, tỷ trọng này thay đổi không đáng kể.
Khối doanh nghiệp tư nhân không phát triển phần do không muốn phát triển, phần do không thể phát triển. Tại sao lại như vậy trong khi Đảng và Chính phủ đã có nhiều nghị quyết và biện pháp nhằm thúc đẩy khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước? Theo người viết khối doanh nghiệp tư nhân trong nước vẫn bị kìm hãm bởi những rào cản, điều kiện kinh doanh, chèn lấn lẫn nhau và nạn tham nhũng vặt, xin đểu, nhất là trong những dịp lễ, Tết.
English
普通话



