Việt Nam đang nghiên cứu khả năng áp dụng EITI. Theo đánh giá của TS. Võ Tuấn Nhân, Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học – Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, những quy định trong luật pháp của Việt Nam hoàn toàn tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng EITI.
Tuy nhiên, ông Nhân cũng thừa nhận: “Đang có những khoảng cách nhất định giữa những quy định của pháp luật và thực tiễn quản lý, giữa nội dung văn bản và việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính trong lĩnh vực khai thác khoáng sản. Công tác công khai, minh bạch về thu – chi trong khai thác khoáng sản còn nhiều hạn chế…”.

Theo quy định, doanh nghiệp khai thác khoáng sản phải nộp 9 loại phí, 6 sắc thuế, 5 khoản chi chính thức khác. Trong đó, các doanh nghiệp phải có các khoản nộp thuế tài nguyên, phí môi trường, đóng góp cho các công trình công cộng ở địa phương, nơi doanh nghiệp thực hiện khai thác khoáng sản.
Về phía doanh nghiệp, thực tế cho thấy, dù tuân thủ tốt các quy định của pháp luật, thì doanh nghiệp cũng không thể biết được khoản đóng góp bằng tiền của mình được sử dụng ra sao.
Ông Lê Minh Kha, Giám đốc Công ty TNHH Vàng Phước Sơn cho biết: “Công ty TNHH Vàng Phước Sơn đã đầu tư 3,5 triệu USD cho việc xử lý nước thải, quặng thải, khử độc và quản lý môi trường. Công ty đã đóng góp 8 tỷ đồng với địa phương, hỗ trợ hộ nghèo. Người dân địa phương trông chờ nhiều vào đóng góp từ phía doanh nghiệp, nhưng các thông tin về bảo vệ môi trường và nghĩa vụ bảo vệ môi trường mà Công ty đã thực hiện không được công khai cho người dân biết”.
Ông Kha cho biết thêm, chính cơ chế tài chính hiện nay đang tạo áp lực cho cả doanh nghiệp và chính quyền địa phương. Từ năm 2005 đến tháng 6/2012, Công ty đã nộp ngân sách 544 tỷ đồng. Các khoản nộp này được cân đối vào ngân sách tỉnh, sau đó tỉnh cân đối với Trung ương, phần để lại cho chính quyền địa phương khá nhỏ. “Người dân nơi đây chỉ biết rằng, mỏ vàng nằm tại địa phương, vàng được khai thác thì địa phương phải nhận được nguồn thu lớn để đầu tư. Suy nghĩ này của người dân vừa tạo áp lực, vừa gây nghi ngờ trong người dân đối với chính quyền địa phương và doanh nghiệp”, ông Kha nói.
Như vậy, nếu tham gia EITI, Việt Nam sẽ tăng được nguồn thu cho ngân sách, giảm thiểu thất thoát tài chính từ hoạt động khai thác dầu khí, khoáng sản, tạo dựng lòng tin của dân chúng đối với cơ quan quản lý. Bên cạnh đó, lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài tăng lên, dẫn tới khả năng thu hút thêm vốn đầu tư nước ngoài.
Từ thực tiễn thực thi EITI trên thế giới, ông Matthieu Salomon, Quản lý chương trình Đông Nam Á, thuộc Viện Giám sát nguồn thu (RWI) của Mỹ nhấn mạnh: “Cơ chế hoạt động của EITI là công ty khai khoáng công khai các khoản chi cho Chính phủ và Chính phủ cũng công khai nguồn thu từ các công ty này”.
Đặc biệt, ông Salomon cho rằng, khả năng thực hiện thành công sáng kiến còn phụ thuộc vào việc Chính phủ cam kết tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong ngành công nghiệp khai khoáng.
Nghiên cứu khả năng áp dụng EITI tại Việt Nam, ông Nhân nhận định: “Indonesia phải mất tới 5 năm để chuẩn bị lộ trình, kế hoạch cho việc thực hiện sáng kiến này. Hy vọng, Việt Nam sẽ rút ngắn được thời gian chuẩn bị. Thời gian tới, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ có ý kiến về công khai, minh bạch trong khai khoáng. Việc xem xét thực thi sáng kiến này mới chỉ là bước đầu. Việt Nam vẫn còn thiếu cả nguồn lực và chiến lược”
English
普通话



